Kiểm soát lượng đường trong máu với phương pháp điều trị bằng thuốc

kiem-soat-luong-duong-trong-mau-voi-phuong-phap-dieu-tri-bang-thuoc-2

Bạn thân mến!

Giáo dục cho người bệnh đái tháo đường là một trong những biện pháp cơ bản quan trọng nhằm làm cho người bệnh nhận thức được đái tháo đường là bệnh suốt đời, hiện nay không thể chữa khỏi, việc điều trị cần phải kiên trì. Điều này giúp bệnh nhân hiểu được kiến thức cơ bản và các yêu cầu kiểm soát điều trị của bệnh đái tháo đường, học cách sử dụng máy đo đường huyết cầm tay đúng cách, nắm vững các biện pháp cụ thể của liệu pháp ăn kiêng và các yêu cầu cụ thể của tập thể dục, tìm hiểu các lưu ý khi sử dụng thuốc hạ đường huyết. Hiện nay, các phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường chủ yếu được chia thành 3 dạng: liệu pháp ăn kiêng, liệu pháp điều trị bằng thuốc và liệu pháp tập thể dục. Bài viết này sẽ giới thiệu các loại thuốc tại đây.

Thuốc điều trị bệnh đái tháo đường

kiem-soat-luong-duong-trong-mau-voi-phuong-phap-dieu-tri-bang-thuoc-3

Chất kích thích bài tiết:

Bao gồm nhóm thuốc Sulfonylureas (SUS) và Meglitinides, các Sulfonylureas hiện nay chủ yếu bao gồm Gliquidone, Gliclazide, Glimepiride,… Cơ chế hoạt động là kích thích tế bào β đảo nhỏ để tăng mức insulin trong cơ thể do đó làm giảm lượng đường trong máu.

Meglitinide bao gồm Repaglinide, Nateglinide, và Mitiglinide, cơ chế tác dụng là làm giảm glucose máu sau ăn bằng cách kích thích tiết insulin sớm, phù hợp hơn với đặc điểm lâm sàng của tình trạng glucose máu cao sau ăn.

Bệnh nhân đái tháo đường týp 2 không thể được kiểm soát tốt bằng liệu pháp ăn kiêng và tập thể dục; nếu đã áp dụng liệu pháp insulin, liều lượng hàng ngày phải nhỏ hơn 20 - 30U; đối với kháng insulin hoặc vô cảm, ngay cả khi liều lượng insulin hàng ngày vượt quá 30U, Có thể cố gắng thêm thuốc Sulfonylurea.

Điều trị Sulfonylureas ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 có thể cải thiện thụ thể insulin và (hoặc) khiếm khuyết sau thụ thể, đồng thời tăng cường độ nhạy của tế bào mô đích với insulin. Do đó, người ta tin rằng nó có thể có tác dụng hạ đường huyết ngoài tuyến tụy.

Chống chỉ định: Nhóm thuốc này không thích hợp cho bệnh nhân đái tháo đường týp 1, bệnh nhân tiểu đường týp 2 bị nhiễm trùng nặng, nhiễm toan ceton, hôn mê hyperosmolar, phẫu thuật lớn, rối loạn chức năng gan và thận và bệnh nhân đang mang thai.

Biguanides:

Các loại thuốc Biguanides thường được sử dụng như Metformin. Biguanides làm giảm lượng đường trong máu chủ yếu bằng cách giảm sản lượng glucose ở gan và cải thiện tình trạng kháng insulin, nhưng nhóm thuốc này không ảnh hưởng đến nồng độ insulin trong huyết thanh. Nhóm thuốc này không có tác dụng hạ đường huyết đối với lượng đường trong máu ở mức bình thường. Hơn nữa, nhóm thuốc này không gây hạ đường huyết khi sử dụng một mình và có thể được sử dụng kết hợp với Sulfonylureas. Tăng cường tác dụng hạ đường huyết. Biguanides là thuốc đầu tay cho bệnh nhân đái tháo đường týp 2 béo phì hoặc thừa cân. Nếu việc sử dụng đơn lẻ biguanide hoặc Sulfonylureas có tác dụng nhất định nhưng không đạt được hiệu quả kiểm soát tốt thì có thể dùng kết hợp cả hai loại thuốc này. Trong quá trình điều trị bằng insulin cho bệnh nhân đái tháo đường týp 1, nếu đường huyết biến động lớn thì việc bổ sung thêm Biguanide sẽ giúp ổn định tình trạng bệnh.

Chống chỉ định: Vì thuốc Biguanides thúc đẩy quá trình đường phân kỵ khí và tạo ra axit lactic, chúng dễ gây nhiễm axit lactic trong điều kiện thiếu oxy như suy gan và thận, sốc giảm thể tích hoặc suy tim. thận trọng khi sử dụng cho bệnh nhân cao tuổi.

Chất ức chế alpha-glucosidase:

Thường được sử dụng chủ yếu là Acarbose và Voglibose. Những loại thuốc này làm chậm sự hấp thu carbohydrate và làm giảm sự tăng đường huyết sau ăn bằng cách ức chế men α-glucosidase (như maltase, amylase và sucrase) trên bề mặt tế bào biểu mô của niêm mạc ruột non. Nhóm thuốc này có thể được sử dụng như thuốc đầu tay cho bệnh đái tháo đường týp 2, đặc biệt thích hợp cho những người có đường huyết lúc đói bình thường nhưng lượng đường trong máu cao hơn đáng kể sau bữa ăn. Nhóm thuốc này có thể được sử dụng một mình, kết hợp với sus hoặc biguanide, hoặc kết hợp với insulin.

Thiazolidinediones (TZD):

TZDs, còn được gọi là Glitazones, là chất nhạy cảm với insulin. Các TZD thường được sử dụng là Pioglitazone và Rosiglitazone. Chức năng chính là tăng cường độ nhạy của các mô ngoại vi với insulin, cải thiện tình trạng kháng insulin và hạ đường huyết. Và có thể cải thiện một loạt các yếu tố nguy cơ tim mạch liên quan đến kháng insulin. TZD chủ yếu được sử dụng cho bệnh đái tháo đường týp 2, đặc biệt là bệnh nhân kháng insulin, những người có hiệu quả kém với các thuốc trị tiểu đường khác. Thuốc có thể được sử dụng một mình hoặc kết hợp với Sulfonylurea hoặc insulin. Hãy chú ý đến chức năng gan trong quá trình áp dụng các loại thuốc như vậy.

Bệnh đái tháo đường có thể gây tổn thương nhiều hệ thống của cơ thể, dẫn đến không tiết đủ insulin tương đối hoặc tuyệt đối và giảm độ nhạy của tế bào mô đích với insulin, gây ra một loạt hội chứng rối loạn chuyển hóa như đạm, béo, nước và điện giải. Lượng đường trong máu tăng đáng kể có thể gây ra các biến chứng cấp tính như nhiễm toan ceton do đái tháo đường và hôn mê. Bệnh kéo dài cũng có thể gây ra bệnh mạch máu và thần kinh, có thể gây tổn thương nhiều cơ quan và mô như tim, não, thận, mắt, dây thần kinh và da. Ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, thậm chí dẫn đến tuổi thọ bị rút ngắn, cần tích cực phòng ngừa và điều trị. Vì vậy bệnh nhân đái tháo đường cần thực hiện tốt những biện pháp điều trị kết hợp như thay đổi chế độ ăn uống và lối sống để tránh được những tác hại trên do bệnh đái tháo đường gây nên.

Chúc bạn luôn mạnh khỏe!

4 | ★ 351
Dược sĩ Lâm |

Dược sĩ Lâm đã có 20 kinh nghiệm làm chuyên môn về chuyên khoa Nội. Đặc biệt Dược sĩ Lâm có nhiều năm kinh nghiệm các bệnh tiểu đường, rối loạn tuyến giáp, rối loạn cholesterol