10 loại thuốc này có thể dễ dàng dẫn đến tăng đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường

10-loai-thuoc-de-dang-dan-den-tang-duong-huyet-o-benh-nhan-tieu-duong-1

Bạn thân mến!

Tăng đường huyết là kết quả của việc bài tiết insulin bị lỗi hoặc hoạt động sinh học bị suy giảm. Đặc biệt một số bệnh nhân đái tháo đường cao tuổi thường kết hợp với các bệnh lý khác như: tăng huyết áp, bệnh mạch vành, tăng mỡ máu. Một số loại thuốc điều trị các bệnh này có tác dụng làm tăng đường huyết, một số loại lại có tác dụng hạ đường huyết phối hợp với thuốc hạ đường huyết, thậm chí làm tăng nguy cơ nhiễm độc. Dưới đây là 10 loại thuốc trong danh sách những loại thuốc gây tăng đường huyết khi sử dụng.

Một số loại thuốc có khả năng dẫn đến tăng đường huyết

 

10-loai-thuoc-de-dang-dan-den-tang-duong-huyet-o-benh-nhan-tieu-duong-2

1. Thuốc hormone tuyến giáp: Levothyroxine natri và liothyronine natri có thể làm giảm mức insulin, và bệnh nhân tiểu đường nên tăng liều lượng insulin và thuốc uống hạ đường huyết một cách thích hợp sau khi dùng chúng. (Lưu ý: Natri levothyroxine quá mức có thể khiến lượng đường trong máu tăng lên).

2. Thuốc Isoniazid: Isoniazid có tính chọn lọc cao đối với Mycobacterium tuberculosis và có tác dụng kháng khuẩn mạnh. Trong lịch sử gần 50 năm sử dụng này, mặc dù vi khuẩn lao do một số bệnh nhân nhiễm đã phát triển kháng thuốc nhưng hầu hết các bác sĩ vẫn coi đây là loại thuốc chính không thể thiếu trong điều trị bệnh lao. Tuy nhiên, khi nó được kết hợp với thuốc trị đái tháo đường sulfonylurea có thể xảy ra bệnh đái tháo đường và tăng đường huyết, thậm chí có thể xảy ra bệnh đái tháo đường không hồi phục.

3. Thuốc corticosteroid:

Hormone vỏ thượng thận, được gọi là corticosteroid, là thuật ngữ chung cho các hormone do vỏ thượng thận tổng hợp và tiết ra. Chúng là steroid, nhưng thường không bao gồm hormone sinh dục. Chẳng hạn như: prednisone, prednisolone, methylprednisone, hydrocortisone, dexamethasone, v.v.

Corticosteroid chủ yếu được sử dụng để cứu những bệnh nhân nặng và một số bệnh mãn tính mà các phương pháp điều trị bằng thuốc khác không hiệu quả, chẳng hạn như viêm khớp dạng thấp và hen suyễn thường xuyên. Đây là một loại hormone quan trọng tham gia vào quá trình điều hòa ngược lại lượng đường trong máu, làm giảm độ nhạy insulin bằng cách thúc đẩy hình thành mỡ và tân tạo, giảm tổng hợp glycogen,… dẫn đến tăng nồng độ đường trong máu.

4. Thuốc lợi tiểu: Thuốc lợi tiểu là một thành phần quan trọng của chiến lược điều trị cho bệnh nhân suy tim ứ nước (HF). Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng một trong những tác dụng phụ của nó là nó có thể ức chế việc giải phóng insulin, giảm dung nạp glucose và dẫn đến tăng lượng đường trong máu hoặc lượng đường trong nước tiểu dương tính, chẳng hạn như: furosemide, axit etaneric và hydrochlorothiazide.

Về hydrochlorothiazide, người biên soạn sẽ mở rộng thêm lần nữa: bệnh nhân tăng acid uric máu hoặc bệnh gút không được dùng, nếu không tình trạng bệnh sẽ nặng hơn; bệnh nhân suy thận và creatinin huyết thanh lớn hơn 290 μmol / L không được dùng.

5. Chất ức chế protease: Thuốc ức chế protease chủ yếu bao gồm: nelfinavir, saquibonvir, indinavir, amprenavir, ritonavir, lopinavir và các chế phẩm kết hợp. Tỷ lệ tăng đường huyết từ 3% đến 17% sau khi bắt đầu điều trị chống vi rút HIV bằng thuốc ức chế protease hoặc sau khi sử dụng lâu dài, bất kể bệnh nhân có bị tiểu đường hay không. Nhiều chuyên gia không chấp nhận việc ngắt quãng các loại thuốc kháng vi-rút để làm giảm tình trạng tăng đường huyết, đặc biệt ở những bệnh nhân đã kiểm soát được vi-rút ổn định.

Cách tiếp cận được khuyến nghị hiện nay là đo mức đường huyết cơ bản trước khi bắt đầu điều trị bằng chất ức chế protease và 3 đến 4 tháng một lần trong năm đầu điều trị. Nếu lượng đường trong máu ổn định, có thể giảm theo dõi lượng đường trong máu.

6. Salbutamol: So với những người khác, bệnh nhân đái tháo đường có lượng đường trong máu, axit béo tự do, cơ thể xeton và mức chất béo trung tính cao hơn khi họ dùng salbutamol IV. Các phản ứng có hại này có thể được cải thiện bằng cách giảm liều lượng thuốc và biến mất khi ngừng điều trị.

7. Aminophylline: Lượng quá nhiều có thể giải phóng catecholamine, gây rối loạn nhịp tim, tăng đường huyết, hạ kali máu và toan chuyển hóa.

8. Thuốc kích thích tố sinh dục:  Một số dữ liệu cho thấy tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose ở những người uống thuốc tránh thai (16%) cao hơn ở những người không sử dụng (8%). Nồng độ insulin huyết tương, triglycerid và đường huyết sau ăn trong 2 giờ lúc đói cao hơn so với lúc đói. Phản ứng bất lợi này chủ yếu là do thuốc tránh thai có chứa norethisterone và norgestrel, loại trước có tác dụng tăng đường huyết yếu, còn loại sau có tác dụng tăng đường huyết mạnh.

9. Thuốc chống loạn thần: Clozapine, olanzapine, quetiapine, aripiprazole, risperidone, ziprasidone, chlorpromazine, perphenazine, trifluoperazine, v.v. có thể gây ra điều hòa glucose bất thường, bao gồm cả khởi phát bệnh tiểu đường, làm trầm trọng thêm bệnh tiểu đường hiện có và dẫn đến nhiễm toan tiểu đường.

10. Nhóm thuốc Fluoroquinolon: Gatifloxacin có thể gây hạ đường huyết nghiêm trọng hoặc tử vong hoặc tăng đường huyết, tiểu đường, rối loạn dung nạp glucose, hôn mê tăng đường huyết, hôn mê hạ đường huyết, v.v.

Hạ đường huyết thường xảy ra trong giai đoạn đầu dùng thuốc (trong vòng 3 ngày), và tăng đường huyết thường xảy ra trong vài ngày dùng thuốc (sau 3 ngày).

Nếu người bệnh tiểu đường có lượng đường trong máu cao trong thời gian dài, nó sẽ gây tổn thương mãn tính cho các mô khác nhau, đặc biệt là mắt, thận, tim, mạch máu…. Trong những trường hợp nghiêm trọng, các triệu chứng như nhiễm toan ceton và hôn mê siêu âm có thể xảy ra. Vì thế, trước khi lựa chọn bất cứ loại thuốc gì để điều trị bệnh gút, bạn nên hỏi ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng để tránh tình trạng tăng đường huyết diễn ra trong bạn.

Chúc bạn luôn mạnh khoẻ!

4 | ★ 410
Dược sĩ Lâm |

Dược sĩ Lâm đã có 20 kinh nghiệm làm chuyên môn về chuyên khoa Nội. Đặc biệt Dược sĩ Lâm có nhiều năm kinh nghiệm các bệnh tiểu đường, rối loạn tuyến giáp, rối loạn cholesterol